Khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Chiến khu Việt Bắc để phát triển du lịch
(TITC) – Trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang chuyển hướng mạnh mẽ theo xu thế phát triển xanh, bền vững và dựa vào cộng đồng, các địa phương trung du – miền núi phía Bắc đã và đang nỗ lực tìm ra con đường riêng, dựa trên tiềm năng văn hoá bản địa. Trong đó, vùng Chiến khu Việt Bắc nổi lên như một không gian đặc biệt – nơi giao thoa giữa giá trị lịch sử cách mạng, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số, mở ra hướng đi bền vững cho phát triển du lịch văn hoá – cộng đồng.

Đình Tân Trào. Ảnh: TITC
Nét đặc sắc của văn hoá Việt Bắc
Vùng Chiến khu Việt Bắc sau khi sáp nhập gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang – nơi hội tụ đời sống văn hóa phong phú của hàng chục dân tộc như Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chay, Cao Lan… Mỗi dân tộc, mỗi bản làng đều lưu giữ những nét đặc trưng về kiến trúc, trang phục, ẩm thực, tín ngưỡng, dân ca, dân vũ, tạo nên bức tranh văn hoá đa dạng và đậm đà bản sắc.
Văn hoá Việt Bắc là văn hoá của núi rừng và cộng đồng gắn bó với thiên nhiên, nơi mỗi bản làng là một “bảo tàng sống” về tri thức dân gian, phong tục tập quán và lối sống hoà hợp với rừng, suối, nương rẫy. Không gian văn hoá ấy còn được tô đậm bởi các giá trị cách mạng lịch sử – từ Pác Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang) đến ATK Định Hoá (Thái Nguyên) – đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc.
Ngoài ra, Việt Bắc còn là cái nôi của nhiều di sản văn hoá phi vật thể độc đáo, tiêu biểu như hát Then – đàn tính của người Tày, Nùng (được UNESCO vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại); lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Cấp sắc của người Dao, chợ tình Khau Vai của người Mông, cùng vô vàn trò chơi, điệu múa, phong tục thể hiện đời sống tinh thần phong phú.
Bên cạnh đó, các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, rèn, làm nhạc cụ, nấu rượu men lá, chế biến thuốc nam… vẫn được duy trì, vừa phục vụ đời sống, vừa trở thành “sản phẩm văn hoá” hấp dẫn du khách. Mỗi tấm vải, chiếc khèn, hay chum rượu ngô đều mang theo câu chuyện về con người, bản làng và tâm hồn Việt Bắc.
Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá – cộng đồng
Những năm gần đây, du lịch Việt Bắc đã có bước tiến đáng kể. Nhiều điểm đến như Thác Bản Giốc (Cao Bằng), Hồ Ba Bể (Thái Nguyên), Đồng Văn (Tuyên Quang), Na Hang (Tuyên Quang), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), ATK Định Hóa (Thái Nguyên) đã trở thành thương hiệu quen thuộc với du khách trong và ngoài nước.
Đáng chú ý, du lịch cộng đồng gắn với văn hoá dân tộc đang là hướng phát triển hiệu quả. Các bản du lịch như Pác Ngòi (Thái Nguyên), Phja Thắp (Cao Bằng), Nam Đôn (Tuyên Quang) hay các bản của người Dao, người Tày ở Thái Nguyên, Tuyên Quang đã thu hút đông đảo du khách. Tại đây, du khách được trải nghiệm đời sống bản địa – ở nhà sàn, thưởng thức ẩm thực truyền thống, nghe hát then, thổi khèn, tham gia lễ hội, đi chợ phiên – từ đó cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp văn hóa vùng cao.
Những mô hình này giúp giữ gìn bản sắc dân tộc, đồng thời mở ra cơ hội sinh kế mới cho người dân, góp phần chuyển đổi kinh tế địa phương theo hướng “xanh – nhân văn – bản sắc”.

Lán Nà Lừa. Ảnh: TITC
Giải pháp phát huy giá trị văn hoá dân tộc trong phát triển du lịch
Để khai thác hiệu quả các giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vùng Chiến khu Việt Bắc, cần chú trọng một số định hướng trọng tâm sau:
Thứ nhất, bảo tồn và phục hồi văn hoá truyền thống gắn với du lịch. Cần sưu tầm, số hoá và truyền dạy các di sản văn hoá dân gian; khôi phục lễ hội truyền thống, nghề thủ công; bảo tồn không gian kiến trúc bản làng, trang phục và ẩm thực dân tộc; phát huy vai trò của nghệ nhân trong việc truyền dạy nghề, hát dân ca, chế tác nhạc cụ cho thế hệ trẻ.
Thứ hai, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù mang dấu ấn văn hoá. Xây dựng các tuyến “Về nguồn Việt Bắc” kết nối di tích lịch sử cách mạng với bản làng dân tộc; phát triển sản phẩm trải nghiệm văn hoá, nghề thủ công; tổ chức chương trình giao lưu dân ca, ẩm thực, trình diễn nghệ thuật dân gian; xây dựng thương hiệu du lịch Việt Bắc dựa trên yếu tố “bản sắc – thân thiện – chân thực”.
Thứ ba, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng. Người dân cần được đặt ở vị trí trung tâm của hoạt động du lịch. Cần tăng cường đào tạo kỹ năng phục vụ, hướng dẫn, bảo vệ môi trường; hỗ trợ cộng đồng xây dựng mô hình du lịch bền vững, chia sẻ lợi ích công bằng giữa người dân – doanh nghiệp – chính quyền.
Thứ tư, tăng cường quảng bá và liên kết vùng. Các tỉnh trong vùng cần hợp tác xây dựng “Không gian du lịch văn hoá Việt Bắc”, tổ chức các sự kiện, tuần lễ du lịch, hội chợ sản phẩm OCOP, liên hoan hát Then – đàn tính; đồng thời đẩy mạnh truyền thông số, xây dựng bản đồ du lịch thông minh, quảng bá hình ảnh Việt Bắc ra thị trường quốc tế.
Lan toả bản sắc – kết nối phát triển
Du lịch văn hóa vùng Việt Bắc không chỉ là hành trình khám phá cảnh đẹp, mà là hành trình tìm về cội nguồn văn hoá và con người. Mỗi tiếng hát then, mỗi tấm vải thổ cẩm, mỗi phiên chợ vùng cao đều chứa đựng hơi thở cuộc sống, niềm tự hào và khát vọng của đồng bào dân tộc.
Khai thác và phát huy giá trị văn hoá dân tộc thiểu số vùng Chiến khu Việt Bắc chính là biến “di sản” thành “tài sản”, để văn hoá vừa được gìn giữ, vừa trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Đây cũng là cách thiết thực góp phần xây dựng Việt Bắc trở thành vùng du lịch văn hóa – sinh thái – lịch sử tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trung tâm Thông tin du lịch


